DỄ HÀNH VÀ KHÓ TIN
Nguyên tác: Pháp sư Tịnh Tông
Người dịch: Thích Nữ Hòa Hiệp
Người đọc: An Nhiên
------------------
Đối với pháp môn Tịnh Độ, thường có hai cách nói pháp, một là “đạo dễ hành”, hai là “pháp khó tin”. Trong phần cuối của kinh Vô Lượng Thọ, kinh A-di-đà đều là Phật Thích-ca Mâu-ni cảm thán khó tin: “Khó trong khó, không gì khó hơn”, “nói pháp khó tin này cho chúng sanh trong đời ác năm trược”.
Hai cách thuyết pháp này đều là đang giải thích pháp môn Tịnh Độ. Nhìn nhận trên mặt phán giáo để so sánh thì chúng ta dùng “đạo dễ hành” chứ không dùng “pháp khó tin”. Nói “khó tin” thì trước tiên phải nói đến chữ “khó” này; còn nói “dễ hành” thì đầu tiên chính là nói đến chữ “dễ”: Điều này có sự khác biệt của chúng.
Đạo dễ hành, nói “dễ hành”, nó là một định nghĩa, tức là nói pháp môn này là pháp dễ dàng. Cách thức thực hành chính là xưng danh hiệu Phật A-di-đà. “Dễ hành” thì trình bày vấn đề vô cùng giản đơn, rõ ràng. “Dễ hành” là định nghĩa, là nói thẳng, trực tiếp trình bày.
Còn “khó tin” là một từ loại tán thán và tu sức, chủ yếu là tán thán pháp môn này vô cùng cao sâu, lợi ích hết sức thù thắng, vô cùng dễ dàng, không thể nghĩ bàn, khó tin vô cùng; đồng thời nó lại là từ tu sức.
Nhìn nhận từ khía cạnh “dễ hành” và “khó tin” thì chú trọng trình bày về “dễ hành” hơn, cho nên gọi là “Dị hành phẩm”. Nếu gọi là “Nan hành phẩm” thì mọi người sẽ cảm thấy quá khó, tin không nổi.
“Dễ hành” là trình bày trực tiếp, “khó tin” là hiển bày ngược lại. Một là nói thẳng, hai là nói khéo. Nói “Dễ hành” là để chứng tỏ phương diện dễ dàng của pháp môn này, nói “khó tin” là chứng tỏ khía cạnh thù thắng của pháp môn này. Cho nên, pháp môn Tịnh Độ có hai đức: Thù thắng và dễ dàng.
Đại đức Tổ sư phần nhiều đều bắt tay từ chỗ dễ thực hành, như Đại sư Thiện Đạo nói “lấy hạnh lập tín”, Bồ-tát Long Thọ cũng giảng chỗ này là “bỏ khó chọn dễ”.
“Khó tin”: Có người giải thích điểm này một cách quá lố, hoặc có khi lại giải thích cường điệu: “Pháp này khó tin, làm sao mà tin được chứ, phải tin đến trình độ gì gì đó, bạn phải có cảm ứng ra sao đó, bạn phải có cảm nhận gì gì nữa đó”, đó chính là “rảnh rỗi sinh nông nổi”, vốn dĩ là pháp dễ thực hành, do những giải thích như thế trở thành chướng ngại trùng trùng. Đấy là không khéo thuyết pháp.
Phải biết rằng: “Khó tin” này là từ tu sức, là từ hiển thị ngược lại, thật sự thì nó là một kiểu khen ngợi.
Pháp khó tin, khó để khế nhập, bởi thế nên bắt tay từ chỗ dễ thực hành. Đại sư Thiện Đạo nói là “lấy hạnh lập tín”. Dùng phương pháp dễ thực hành là xưng sanh này, để kiến lập tín tâm thù thắng, rất đơn giản. Mặc dù nói là “pháp khó tin”, nhưng nếu lấy hạnh lập tín, thì lòng tin này không khó. Chỉ cần bạn xưng danh “chúng sanh xưng niệm, chắc chắn vãng sanh”, trong đó “chúng sanh xưng niệm” là “lấy hạnh”, “chắc chắn vãng sanh” chính là “lập tín”. “Nói “nam-mô” tức là quy mạng, nói “A-di-đà Phật” tức là hạnh của Phật”, trong sáu chữ danh hiệu cũng có “lấy hạnh lập tín” rồi. Cho nên, chúng ta bỏ khó chọn dễ, bắt tay từ “chấp trì xưng danh hiệu”. Chẳng hạn như có rất nhiều bà cụ, bạn giảng nhiều chừng nào thì bà càng không hiểu chừng nấy, nhưng bạn nói niệm Phật thì nhất định vãng sanh, niệm Phật mang lại rất nhiều điều tốt đẹp, thì bà liền niệm Phật ngay. Đây chính là “ngầm hợp diệu đạo, thầm thông Phật trí”, như thế thì lợi ích thù thắng tự nhiên đã bao hàm trong đó.
Nam-mô A-di-đà Phật!
Nguyên tác: Pháp sư Tịnh Tông
Người dịch: Thích Nữ Hòa Hiệp
Người đọc: An Nhiên
------------------
Đối với pháp môn Tịnh Độ, thường có hai cách nói pháp, một là “đạo dễ hành”, hai là “pháp khó tin”. Trong phần cuối của kinh Vô Lượng Thọ, kinh A-di-đà đều là Phật Thích-ca Mâu-ni cảm thán khó tin: “Khó trong khó, không gì khó hơn”, “nói pháp khó tin này cho chúng sanh trong đời ác năm trược”.
Hai cách thuyết pháp này đều là đang giải thích pháp môn Tịnh Độ. Nhìn nhận trên mặt phán giáo để so sánh thì chúng ta dùng “đạo dễ hành” chứ không dùng “pháp khó tin”. Nói “khó tin” thì trước tiên phải nói đến chữ “khó” này; còn nói “dễ hành” thì đầu tiên chính là nói đến chữ “dễ”: Điều này có sự khác biệt của chúng.
Đạo dễ hành, nói “dễ hành”, nó là một định nghĩa, tức là nói pháp môn này là pháp dễ dàng. Cách thức thực hành chính là xưng danh hiệu Phật A-di-đà. “Dễ hành” thì trình bày vấn đề vô cùng giản đơn, rõ ràng. “Dễ hành” là định nghĩa, là nói thẳng, trực tiếp trình bày.
Còn “khó tin” là một từ loại tán thán và tu sức, chủ yếu là tán thán pháp môn này vô cùng cao sâu, lợi ích hết sức thù thắng, vô cùng dễ dàng, không thể nghĩ bàn, khó tin vô cùng; đồng thời nó lại là từ tu sức.
Nhìn nhận từ khía cạnh “dễ hành” và “khó tin” thì chú trọng trình bày về “dễ hành” hơn, cho nên gọi là “Dị hành phẩm”. Nếu gọi là “Nan hành phẩm” thì mọi người sẽ cảm thấy quá khó, tin không nổi.
“Dễ hành” là trình bày trực tiếp, “khó tin” là hiển bày ngược lại. Một là nói thẳng, hai là nói khéo. Nói “Dễ hành” là để chứng tỏ phương diện dễ dàng của pháp môn này, nói “khó tin” là chứng tỏ khía cạnh thù thắng của pháp môn này. Cho nên, pháp môn Tịnh Độ có hai đức: Thù thắng và dễ dàng.
Đại đức Tổ sư phần nhiều đều bắt tay từ chỗ dễ thực hành, như Đại sư Thiện Đạo nói “lấy hạnh lập tín”, Bồ-tát Long Thọ cũng giảng chỗ này là “bỏ khó chọn dễ”.
“Khó tin”: Có người giải thích điểm này một cách quá lố, hoặc có khi lại giải thích cường điệu: “Pháp này khó tin, làm sao mà tin được chứ, phải tin đến trình độ gì gì đó, bạn phải có cảm ứng ra sao đó, bạn phải có cảm nhận gì gì nữa đó”, đó chính là “rảnh rỗi sinh nông nổi”, vốn dĩ là pháp dễ thực hành, do những giải thích như thế trở thành chướng ngại trùng trùng. Đấy là không khéo thuyết pháp.
Phải biết rằng: “Khó tin” này là từ tu sức, là từ hiển thị ngược lại, thật sự thì nó là một kiểu khen ngợi.
Pháp khó tin, khó để khế nhập, bởi thế nên bắt tay từ chỗ dễ thực hành. Đại sư Thiện Đạo nói là “lấy hạnh lập tín”. Dùng phương pháp dễ thực hành là xưng sanh này, để kiến lập tín tâm thù thắng, rất đơn giản. Mặc dù nói là “pháp khó tin”, nhưng nếu lấy hạnh lập tín, thì lòng tin này không khó. Chỉ cần bạn xưng danh “chúng sanh xưng niệm, chắc chắn vãng sanh”, trong đó “chúng sanh xưng niệm” là “lấy hạnh”, “chắc chắn vãng sanh” chính là “lập tín”. “Nói “nam-mô” tức là quy mạng, nói “A-di-đà Phật” tức là hạnh của Phật”, trong sáu chữ danh hiệu cũng có “lấy hạnh lập tín” rồi. Cho nên, chúng ta bỏ khó chọn dễ, bắt tay từ “chấp trì xưng danh hiệu”. Chẳng hạn như có rất nhiều bà cụ, bạn giảng nhiều chừng nào thì bà càng không hiểu chừng nấy, nhưng bạn nói niệm Phật thì nhất định vãng sanh, niệm Phật mang lại rất nhiều điều tốt đẹp, thì bà liền niệm Phật ngay. Đây chính là “ngầm hợp diệu đạo, thầm thông Phật trí”, như thế thì lợi ích thù thắng tự nhiên đã bao hàm trong đó.
Nam-mô A-di-đà Phật!
- Category
- Dharma





